• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to primary sidebar
  • Trang chủ
  • Sách hay nên đọc
  • Truyện ngôn tình hay nên đọc
  • Weibo tác giả ngôn tình
  • Giới thiệu sách hay
  • Chính sách quyền riêng tư

Người ham đọc

Tổng hợp và chia sẻ Review sách, Tóm tắt sách, Trích dẫn hay và Ebook

Những ngộ nhận "vì sức khỏe"

[Những ngộ nhận “vì sức khỏe”] “Ung thư tuyến tụy” và “Ung thư thận”, loại ung thư nào có hiệu quả khi chụp PET?

December 17, 2020

[Review - Đọc online] Những Ngộ Nhận "Vì Sức Khỏe" - Toshio Akitsu

Gần đây đã xuất hiện phương pháp chụp PET một loại xét nghiệm sàng lọc ung thư.

PET, viết tắt của “Positron Emission Tomography, ghi hình cắt lớp Positron”. Khi tiêm thuốc xét nghiệm theo đường truyền dịch thì glucose có trong thuốc xét nghiệm sẽ tập trung tại các vùng có tế bào ung thư phát triển (vì tế bào ung thư hấp thụ glucose cao gấp nhiều lần so với tế bào bình thường). Lúc này một thiết bị chụp CT đặc thù sẽ chụp hình toàn thân, vùng đó sẽ sáng đỏ lên và nhờ vậy mà ung thư được phát hiện.

Nhờ đó, phương pháp này có thể phát hiện được ung thư ở giai đoạn rất sớm mà với các xét nghiệm truyền thống đã khó phát hiện. Hơn nữa, người bệnh sau khi được tiêm thuốc cũng chỉ việc nằm để chụp nên không bị đau giống như các xét nghiệm từ trước tới giờ.

Ngoài ra, cũng giống như xét nghiệm chụp Barit cản quang, xét nghiệm này có tập trung một lượng phóng xạ phơi nhiễm nhưng cũng không cần thiết phải lo lắng đến vấn đề đó. Ở chụp Barit cản quang lượng phóng xạ phơi nhiễm được cho là khoảng 6 mSv, trong khi chụp PET thì khoảng 4 mSv. Mặt khác, chụp CT vùng ngực thì khoảng 8 mSv, nên nếu so sánh với các xét nghiệm y tế từ trước đến nay, lượng phóng xạ khi chụp PET cũng không được coi là cao quá mức.

PET không phải là vạn năng

Vấn đề đáng nói hơn ở đây là so với chi phí cao thì hiệu quả lại hạn chế.

Để phát hiện các ung thư khó phát hiện như ung thư tuyến tụy, ung thư xương không rõ vị trí thì hiệu quả của chụp PET rất cao, và tôi cũng thường nói với các bệnh nhân mà “Nghi ngờ có ung thư ở vùng tuyến tụy hoặc đường mật nhưng làm các xét nghiệm cũng không phát hiện ra được” rằng “Tôi xin lỗi, nhưng mong bạn hãy làm xét nghiệm chụp PET một lần, được không?”,. Tuy nhiên, ngoài những trường hợp như vậy thì tôi nghĩ không có nhiều lý do để làm xét nghiệm chụp PET.

Với xét nghiệm sử dụng Glucose như chụp PET thì không thể phát hiện được ung thư ở những bộ phận mà Glucose tập trung dù có tế bào ung thư hay không như não, thận, bàng quang. Ngoài ra, đối với nhiều trường hợp ung thư dạ dày thì nội soi dạ dày hoặc chụp Barit cản quang, ung thư gan thì siêu âm vẫn có thể phát hiện được ung thư nên cũng không nhất thiết phải làm xét nghiệm chi phí cao như chụp PET.

Trường hợp muốn làm thêm xét nghiệm chi tiết ngoài các xét nghiệm thông thường, ví dụ như ung thư tuyến tụy thì không nói làm gì, nhưng nếu “xét nghiệm sàng lọc ung thư hằng năm bằng chụp PET” thì thật lãng phí. Ngoài những người dư giả về thời gian cũng như tiền bạc thì tối thiểu chỉ cần làm xét nghiệm cho năm loại ung thư tôi đã nói ở trên là đủ rồi.

Chụp PET thì khả năng phát hiện ung thư tuyến tụy rất cao nhưng đối với ung thư thận hay ung thư bàng quang thì không thể phát hiện được

“Ung thư vú” và “Ung thư đại tràng”, đâu là nguyên nhân gây tử vong số một ở nữ giới?

Filed Under: Uncategorized

[Những ngộ nhận “vì sức khỏe”] “Ung thư vú” và “Ung thư đại tràng”, đâu là nguyên nhân gây tử vong số một ở nữ giới?

December 17, 2020

[Review - Đọc online] Những Ngộ Nhận "Vì Sức Khỏe" - Toshio Akitsu

Ung thư đại tràng, một trong số các ung thư có thể chữa khỏi nếu được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm, thực tế đang tăng đột biến trong những năm gần đây. Trong vòng hai mươi năm trở lại đây, số người tử vong đã tăng gấp đôi và dự đoán là đến năm 2020 tỉ lệ người mắc bệnh sẽ vượt qua ung thư dạ dày, ung thư phổi và chiếm vị trí số một.

Nhân tiện, nếu phân chia theo giới tính thì ở nữ giới ung thư đại tràng đã trở thành nguyên nhân tử vong số một, và ở nam giới cũng đang chiếm vị trí số ba.

Nhưng mặt khác, ung thư đại tràng tiến triển rất chậm, và có thể xét nghiệm nội soi từ hậu môn nên dễ dàng phát hiện.

Như lúc nãy tôi có nói, 90% các trường hợp được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm gần như được chữa trị khỏi.

Vậy thì tại sao số bệnh nhân tử vong đang tăng đến mức như hiện nay?
Một trong những nguyên nhân quan trọng có thể kể đến là tỉ lệ những người đi khám sức khỏe rất thấp. Chính phủ đang đặt mục tiêu tỉ lệ người dân đi khám sức khỏe là 50%, nhưng hiện nay tỉ lệ bình quân của cả nước chỉ dừng lại ở mức 25%.

Ngoài ra, khuyết điểm của việc sàng lọc ung thư đại tràng là đang làm gia tốc thêm cho sự gia tăng số người tử vong.

Ví dụ: Nếu là xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung thì kết quả sẽ thấy được rõ ràng dương tính là ung thư, còn âm tính thì không phải là ung thư. Còn xét nghiệm sàng lọc ung thư đại tràng, trớc tiên phải xét nghiệm xem máu có lẫn trong phân hay không không qua xét nghiệm hồng cầu ẩn trong phân. Tuy nhiên, những khối ung thư nằm im giữa những khe hở trên niêm mạc thì không xuất huyết nên không thể khẳng định rằng vì kết quả là âm tính nên loại trừ ung thư đại tràng. Ngược lại, khi kết quả là dương tính thì cũng không thể khẳng định là ung thư. Đó cũng là một vấn đề.

Xét nghiệm hồng cầu ẩn trong phân là một xét nghiệm có độ chính xác cao đến mức có thể so với chuyện một giọt máu nhỏ vào trong nước của bồn tắm cũng có phản ứng. Vì vậy mà những trường hợp khác như trĩ nhẹ… cũng cho ra kết quả dương tính.

“Nội soi đại tràng”, một xét nghiệm khó khăn mà đến bác sĩ cũng phải ngần ngại

Tất nhiên lúc này nếu làm được xét nghiệm chi tiết thì tốt, nhưng bước tiếp theo của xét nghiệm sàng lọc ung thư đại tràng, “nội soi đại tràng’ là một xét nghiệm khó khăn mà đến các bác sĩ cũng phải ngần ngại khi có yêu cầu làm tiếp xét nghiệm này.

Trước hết, để làm sạch hoàn toàn đại tràng thì bạn phải uống một lượng lớn thuốc tiêu chảy, và phải di đại tíện khoảng 20-30 lần. Sau đó, ống nội soi sẽ được đưa vào từ hậu môn. Tuy nhiên, do ruột có hình dạng rất phức tạp nên cho dù bác sĩ giỏi cũng phải mất đến mười phút để nội soi. Và trong khi làm xét nghiệm người được khám sẽ cảm thấy khá đau, mỗi lần chạm vào bên trong ruột sẽ cảm thấy đau dữ dội như bị lồng ruột, rất khổ sở.

Do vậy mà các bác sĩ cũng không muốn tăng thêm gánh nặng cho bệnh nhân nên cho dù xét nghiệm máu lẫn trong phân cho kết quả dương tính thì nhiều trường hợp trả lời mập mờ là “hãỵ theo dõi thêm” đối với người bị trĩ, chính vì vậy mà sẽ có trường hợp bỏ sót ung thư đại tràng.

Vậy thì làm thế nào để phát hiện sớm ung thư đại tràng?

Các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa thường hay nhắc đi nhắc lại, nhưng đây lại là phương pháp dự phòng đúng đắn: “Ung thư đại tràng tiến triển chậm nên cứ năm năm một lần cũng được, hãy làm nội soi đại tràng. Nếu phát hiện sớm thì 90% có thể chữa khỏi.”

Tuy khó khăn nhưng cần làm nội soi đại tràng năm năm một lần.

Hiện nay, vì có thể gây mê toàn thân nên vấn đề bị đau khi nội soi đại tràng đã có thể được giải quyết. Tất nhiên, cũng có những nguy cơ của thuốc gây mê nhưng so với việc bỏ sót ung thư đại tràng thì nguy cơ đó chỉ ở mức có thể chấp nhận được.

Nguyên nhân tử vong ung thu chiếm vị trí số một ở nữ giới là ung thư đại tràng. Tuy nhiên nếu phát hiện và chữa trị sớm thì 90% gần như được chữa khỏi nên nhất định phải làm xét nghiệm sàng lọc. Ngoài ra, xét nghiệm hồng cầu trong phân có khả năng bỏ sót ung thư đại tràng nên hãy đi nội soi đại tràng khoảng năm năm một lần.

“Ghét camera soi dạ dày” và “Ghét chất Barit”, điều nào sẽ khiến bạn bị ung thư dạ dày?
“Ung thư tuyến tụy” và “Ung thư thận”, loại ung thư nào có hiệu quả khi chụp PET?

Filed Under: Uncategorized

[Những ngộ nhận “vì sức khỏe”] “Ghét camera soi dạ dày” và “Ghét chất Barit”, điều nào sẽ khiến bạn bị ung thư dạ dày?

December 9, 2020

[Review - Đọc online] Những Ngộ Nhận "Vì Sức Khỏe" - Toshio Akitsu

Lần cập nhật gần nhất December 17th, 2020 - 03:01 pm

Một trong số các loại ung thư có thể phát hiện được ở giai đoạn sớm mà tôi đưa ra dưới đây là ung thư dạ dày.

Các nghi vấn thường được đưa ra liên quan đến xét nghiệm này là “giữa nội soi dạ dày và chụp Barit cản quang, cái nào tốt hơn?”.

Trong số các bạn ắt hẳn cũng sẽ có những người “sợ chụp Barit cản quang nên chọn nội soi dạ dày” hay ngược lại “sợ nội soi dạ dày nên chọn chụp Barit cản quang”.

Vậy thì cái nào sẽ tốt hơn?

Kết luận là cái nào cũng cần thiết.

Nếu muốn dự phòng ung thư dạ dày một cách nghiêm chỉnh thì cần đi khám khoảng nửa năm một lần, đan xen làm xét nghiệm nội soi dạ dày và xét nghiệm chụp Barit cản quang.

Gần đây, cũng có ý kiến cho rằng chụp Barit cản quang hệ tiêu hóa là không cần thiết, nhưng tôi nghĩ rằng cả hai đều có những ưu điểm và khuyết điểm riêng. Nếu nói một cách đơn giản về điểm khác biệt của chúng thì xét nghiệm Barit là để xem hình dáng tổng thể của dạ dày giống như xem hình dạng của quả núi, còn nội soi dạ dày là để xem từng cây, từng cây một mọc trên quả núi đó. Cụ thể hơn, nếu chỉ làm nội soi dạ dày thì có thể biết rõ được trạng thái của niêm mạc, nhưng hình dạng tổng thể cũng như chuyển động của dạ dày thì hoàn toàn không nhìn thấy được.

Khi đó, có khả năng ta sẽ bỏ sót ung thư dạ dày thể thâm nhiễm cứng.

“Thâm nhiễm cứng” có nghĩa là “cứng”, khi triệu chứng trở nên trầm trọng thì toàn bộ dạ lại dày trở nên xơ cứng nên bệnh mới có tên gọi như vậy.

Trong ung thư dạ dày thể thâm nhiễm cứng thì thường bề mặt của phần chuyển biến do bệnh sẽ được bao phủ bởi các tổ chức khỏe mạnh nên khó mà có thể phát hiện được qua nội soi dạ dày.

Cũng có những trường hợp rất nhiệt tình làm xét nghiệm sàng lọc ung thư nhưng chỉ làm mỗi nội soi dạ dày nên việc phát hiện ung thư dạ dày thể thâm nhiễm cứng bị trễ dẫn đến quá muộn không thể cứu chữa được. Trường hợp này, nếu là chụp Barit cản quang có thể xem được tổng thể dạ dày thì sẽ kiểm tra được chuyển động của dạ dày khác với bình thường do thành dạ dày xơ cứng, từ đó sẽ có thể phát hiện được ung thư xơ cứng dạ dày ở giai đoạn sớm. (Tuy nhiên, ung thư xơ cứng dạ dày thực sự là một loại ung thư rất khó phát hiện. Cũng đã có trường hợp dù có chụp Barit cảm quang cũng không thể phát hiện được cho đến khi đã quá muộn.)

Cũng có những bác sĩ đưa ra quan điểm rằng “so với chụp X-quang thông thường thì khi chụp Barit cảm quang lượng tia phóng xạ sẽ nhiều hơn nên có thể vì thế mà dẫn đến ung thư dạ dày”. Đúng là không chiếu phóng xạ thì không thể tiến hành được nhưng vì thế mà dẫn đến ung thư thì có lẽ đó chỉ là một xác suất rất nhỏ. Nếu so với số người đã được cứu do phát hiện ra ung thư ở giai đoạn sớm nhờ vào chụp Barit cản quang thì không cần phải nói cũng hiểu rằng rủi ro của việc không làm xét nghiệm này cao hơn.

Bạn có phải là người bị nhỉễm vi khuẩn Helicobacter Pylori (vi khuẩn HP)?

Lại một chủ đề nữa lên quan đến ung thư dạ dày là “vi khuẩn HP”.

Khoảng 94% các bệnh nhân ung thư có nhiễm vi khuẩn HP, tỉ lệ mắc ung thư ở những người bị nhiễm vi khuẩn này được cho là cao hơn gấp 5 lần so với những người không nhiễm.

Và ở Nhật, bất ngờ là có đến 70-80% số người trên 50 tuổi bị nhiễm khuẩn này. Thông tin này đã lan rộng và số lượng người đi diệt khuẩn đã tăng lên, tuy nhiên đáng tiếc là dù có diệt khuẩn thì rủi ro bị ung thư dạ dày cũng không thành con số 0 được.

Điều quan trọng là biết được mình có đang nhiễm vi khuẩn HP này hay không. Ngoài nội soi dạ dày, còn có các phương pháp khá đơn giản để kiểm tra như: xét nghiệm kiểm tra khí C02 có lẫn trong hơi thở, xét nghiệm kháng nguyên từ máu hay nước tiểu,… nên trước hết hãy thử làm xét nghiệm.

Trường hợp kết quả kiểm tra bị nhiễm khuẩn thì cần chú trọng hơn vào làm sàng lọc ung thư dạ dày.

Ung thư dạ dày thể thâm nhiễm cứng hầu như không thể phát hiện được qua nội soi dạ dày. Vì xét nghiệm chụp Barit cản quang dễ phát hiện hơn nên cần phải làm đan xen cả hai xét nghiệm.

“Phát hiện và điều trị sớm” và “Phó mặc”, đâu là câu trả lời đúng trong điều trị ung thư?
“Ung thư vú” và “Ung thư đại tràng”, đâu là nguyên nhân gây tử vong số một ở nữ giới?

Filed Under: Uncategorized

[Những ngộ nhận “vì sức khỏe”] “Phát hiện và điều trị sớm” và “Phó mặc”, đâu là câu trả lời đúng trong điều trị ung thư?

December 9, 2020

[Review - Đọc online] Những Ngộ Nhận "Vì Sức Khỏe" - Toshio Akitsu

Năm ngoái, theo phong trào của cuốn sách phủ nhận chăm sóc y tế, có nhiều tranh luận liên quan đến việc phát hiện và điều trị ung thư giai đoạn sớm như “phát hiện giai đoạn sớm cũng không có ý nghĩa gì, và thật ra ung thư thì không cần phải điều trị”, hay “Cần được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm”.

Quan điểm của tôi giống ý kiến thứ hai.

Tuy nhiên, không thể hoàn toàn phủ nhận rằng cũng có loại ung thư thật sự không nên điều trị. Đó là những ung thư vẫn còn rất nhiều điểm chưa rõ ràng, và hơn nữa là trong lĩnh vực y tế cũng chưa thể phủ định giả thuyết này một cách hoàn toàn.

Chính vì vậy, ngược lại, tôi nghĩ rằng việc phủ nhận hoàn toàn phẫu thuật khi phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm cũng là một sai lầm.

Sự thật là hầu hết 90% trường hợp ung thư dạ dày, ung thư phổi, ung thư đại tràng hay ung thư vú, ung thư cổ tử cung đã được điều trị khỏi khi được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm.

Nếu như ta để phó mặc tất cả các ung thư trên, và con số những người đã khỏi nhờ cách đó bằng với con số của những người đã được điều trị khi phát hiện ở giai đoạn sớm thì không nói làm gì, nhưng rất tiếc, quan điểm “phát hiện và điều trị ung thư giai đoạn sớm là không cần thiết” không hẳn đã đưa ra được các bằng chứng rõ ràng như vậy. Tôi thấy rằng trong bài báo ấy có nhiều luận điểm đã sử dụng các số liệu chưa được chứng minh làm bằng chứng.

Qua nhiều vấn đề như trên, có thể thấy rằng còn quá sớm để tin vào “sự thật” này. Đặc biệt vì đây là vấn đề liên quan đến tính mạng nên cần các bệnh nhân phán đoán một cách thận trọng.

Thông qua việc truyền đạt vấn đề này, sau đây tôi sẽ giải thích cách tiếp cận với chăm sóc y tế thích hợp nhất dựa trên quan điểm nên phát hiện và điều trị ung thư ở giai đoạn sớm.

5 loại ung thư mà không làm sàng lọc thì thật “Lãng phí” là gì?

Trước hết, tôi sẽ giải thích đơn giản về khái niệm ung thư?

Thông thường thứ được gọi là “ung thư” là chỉ các u ác tính được phát sinh từ lớp tế bào biểu mô. Về cơ bản, u ác tính thường được hình thành ở các tổ chức gắn trên một ống từ miệng xuống đến hậu môn và khu vực xung quanh nó.

• Các u ác tính chủ yếu: ung thư miệng, ung thư lưỡi, ung thư vòm họng, ung thư phổi, ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư trực tràng, ung thư vú, ung thư gan, ung thư thận, ung thư tuyến tụy, ung thư tuyến mật, ung thư da, ung thư cổ tử cung,…

Những ung thư ngoài các vị trí trên thì được gọi là Sarcoma. Ví dụ: nếu phát sinh ở cơ thì gọi là Sarcoma cơ, phát sinh ở xương thì gọi là Sarcoma xương, phát sinh ở thần kinh thì gọi là Sarcoma thần kinh. Và ung thư não cũng là một loại Sarcoma. Tuy nhiên, Sarcoma ở người trưởng thành là loại khối u hiếm, chiếm dưới 1% trở xuống của ung thư ở người trưởng thành.

Trong số đó, nhất định nên làm tầm soát* với 5 loại ung thư sau: ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư vú, ung thư cổ tử cung.

(*) Tầm soát ung thư: Các biện pháp, thủ thuật được tiến hành trên cơ thể người bệnh để nhằm phát hiện ra ung thư khi còn rất sớm.

Bởi vì các loại ung thư này dễ phát hiện ở giai đoạn sớm và khoảng 90% trường hợp điều trị sớm sẽ gần như được chữa khỏi.

Nhưng nếu là ung thư tuyến tụy thì cách này lại không dùng được.

Trong các mục lựa chọn của khám sức khỏe thì không có tầm soát ung thư tuyến tụy, bởi vì ung thư tuyến tụy khó có thể phát hiện được qua xét nghiệm. Tuyến tụy là một bộ phận nội tạng rất mềm nên hình dạng không được cố định, rất khó để có thể chụp được ảnh của khối u.

Ngoài ra, ung thư thực quản cũng là một loại ung thư khó phát hiện được ở giai đoạn sớm.

Thực quản là một bộ phận rất dễ bị tổn thương nên rất khó để dành nhiều thời gian thăm khám, khối u có hình dạng nhô ra bên ngoài thành thì không nói làm gì, còn các khối u phía trong mà có màu sắc thay đổi nhẹ hoặc không thì rất khó phát hiện.

Hơn thế nữa, xung quanh thực quản còn có các cơ quan nội tạng rất quan trọng như tim, phổi, ống khí quản… hay các động mạch lớn nên nếu phẫu thuật thì cần kỹ thuật rất cao và hiện nay hiệu quả đạt được không nhiều.

Ngoài ra, xung quanh thực quản được bao bọc bởi mạch bạch huyết nên thường hay di căn hoặc tái phát, và đây được cho là một loại ung thư khó chữa khỏi.

Trong khi đó, ung thư phổi thì hầu hết các trường hợp có thể được phát hiện qua một tấm phim X-quang. Ưng thư dạ dày, ngoại trừ ung thư xơ cứng dạ dày, thì cũng có thể phát hiện được ở giai đoạn đầu bằng xét nghiệm chụp Barit cản quang hay nội soi dạ dày.

Ngoài ra, ung thư đại tràng nếu làm xét nghiệm nội soi đại tràng thì cũng tương đối dễ phát hiện.

Ung thư cổ tử cung, ung thư vú cũng có thể phát hiện được qua khám sức khỏe thông thường.

Với những loại ung thư chỉ cần làm xét nghiệm thì có thể dễ dàng phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm như thế này, nếu ta không làm và để đến khi quá trễ thì thật là đáng tiếc.

Đương nhiên việc kiểm tra mọi ngóc ngách của cơ thể là điều lý tưởng hóa, nhưng ít ra, chúng ta nhất định hãy làm xét nghiệm sàng lọc năm loại ung thư nói trên nhé.

Mặc dù không thể phủ nhận hoàn toàn hiệu quả của việc “phó mặc”, không điều trị ung thư, tuy nhiên để khẳng định được thì còn quá sớm. Việc phát hiện và điều trị ung thư ớ giai đoạn sớm cũng vẫn quan trọng. Đặc biệt, đối với các loại ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư vú, ung thư cổ tử cung thì nhất định cần làm sàng lọc đề được phát hiện ở giai đoạn sớm.

“Kết quả bất thường khi khám sức khỏe” và “Kết quả không có vấn đề gì khi khám lại ở bệnh viện”, nếu tin thì sẽ tin bên nào?
“Ghét camera soi dạ dày” và “Ghét chất Barit”, điều nào sẽ khiến bạn bị ung thư dạ dày?

Filed Under: Uncategorized

[Những ngộ nhận “vì sức khỏe”] “Kết quả bất thường khi khám sức khỏe” và “Kết quả không có vấn đề gì khi khám lại ở bệnh viện”, nếu tin thì sẽ tin bên nào?

December 9, 2020

[Review - Đọc online] Những Ngộ Nhận "Vì Sức Khỏe" - Toshio Akitsu

“Khi khám sức khỏe phát hiện chỉ số bất thường và phải khám lại. Nhưng khi đi xét nghiệm lại ở bệnh viện thì kết quả lại là ‘không có vấn đề gì’. Vậy thực sự là như thế nào?”. Chắc hẳn trong số các bạn cũng có người đã trải qua những tình huống như vậy phải không?

Vậy thì, tại sao lại xảy ra tình trạng này?

Thực tế, chỉ số bình thường trong các xét nghiệm của bệnh viện với các chỉ số bình thường trong khám sức khỏe của các cơ quan hay cơ sở y tế tư vốn không giống nhau. Mục đích của việc khám sức khỏe thông thường là để phát hiện ra những người có nghi ngờ bị bệnh dù chỉ là rất nhẹ nên so với khám ở bệnh viện thì các chỉ số này thường được thiết lập khắt khe hơn.

Vì vậy, vẫn thường xảy ra các trường hợp như phát hiện ra các chỉ số thể hiện sự bất thường khi khám sức khỏe nhưng sau khi xét nghiệm lại tại bệnh viện thì nhận được các chỉ số trong phạm vi bình thường, không có bất kì vấn đề nào cả.

Ví dụ: Phạm vi bình thường của chỉ số đường máu khi đói, theo “Hướng dẫn khám và chữa trị bệnh tiểu đường dựa vào các cơ sở khoa học năm 2013” do hội Bệnh tiểu đường soạn thảo là dưới 110 mg/dl và từ 126 mg/dl trở lên thì sẽ được chẩn đoán là bị tiểu đường.

Tuy nhiên, trong khám sức khỏe, nếu vượt quá 110 mg/dl hoặc là chỉ số thấp quá như 101 mg/dl thì cũng sẽ có trường hợp bị ghi chú là “nghi ngờ bị bệnh tiểu đường”.

Trong khám sàng lọc ung thư thì điều này càng rõ rệt.

Ví dụ: Trường hợp xét nghiệm dấu ấn khối u trong ung thư tiền liệt tuyến (PSA), chỉ số bình thường của sàng lọc ung thư là 1.0 ng/dl, từ 1.0 ng/dl trở xuống là không vấn đề gì, trong khoảng 1-5 ng/dl thì cần chú ý và khi vượt quá 5 ng/dl thì sẽ nhận được kết quả là phải khám bác sĩ chuyên môn khoa tiết niệu. Tuy nhiên, ở bệnh viện thì 4.0 ng/dl lại là chỉ số tiêu chuẩn.

Nếu vượt quá 1.0 ng/dl khi khám sức khỏe thì sẽ thành kết quả là “cần chú ý” nhưng khi làm lại xét nghiệm ở bệnh viện với kết quả là 3.9 thì sẽ được kết luận là “bình thường”.

Dấu ấn khối u: là xét nghiệm để phát hiện sự tồn tại hoặc mức độ phát triển của khối u bằng việc đo lượng chất đặc thù có trong máu.

Để đánh giá có khỏe mạnh hay không, không phải “hiện tại” mà “quá khứ” mới là quan trọng.

Vậy thì giữa “kết quả bất thường khi khám sức khỏe” và “kết quả bình thường khi xét nghiệm lại ở bệnh viện” chúng ta nên tin vào bên nào?

Thực ra, chúng ta không được tin mù quáng vào kết quả nào cả.

Quan trọng là bạn không nên ngay lập tức vui buồn chỉ với kết quả ấy, mà bạn phải nhìn và so sánh các dữ liệu hiện tại và quá khứ của bản thân mình.

Việc so sánh hiện tại và quá khứ của bản thân là cách tốt nhất để phát hiện được bộ phận nào đang xấu đi.

Ví dụ: Khi xét nghiệm tiểu đường, bạn nhận được kết quả “cần khám lại” và bạn đã làm lại xét nghiệm ở bệnh viện nhưng kết quả là 115 mg/dl và được kết luận là “không có gì bất thường”. Nếu năm ngoái bạn cũng có cùng chỉ số như thế thì không vấn đề gì, nhưng nếu năm ngoái chỉ số đó là 110 mg/dl thì bạn phải suy nghĩ nguyên nhân và cải thiện thói quen sinh hoạt của mình. Nếu lúc đó bạn nghĩ rằng vì không có gì bất thường nên vẫn giữ thói quen sinh hoạt như từ trước tới giờ thì có lẽ năm sau bạn sẽ trở thành một bệnh nhân tiểu đường nặng rồi đó.

Thêm một ví dụ nữa: Bệnh nhân của tôi có người lúc nào đo chỉ số CA19-9 (một chất được sử dụng trong xét nghiệm dấu ấn khối u để phát hiện ung thư tuyến tụy hay đường mật) cũng là 60 U/ml. Chi số tiêu chuẩn của xét nghiệm này là dưới 37 U/ml. Tuy nhiên, khi cho anh ấy đi chụp CT* cũng không phát hiện ra khối u nào. Ở trường hợp của anh ấy lúc nào chỉ số đó cũng cố định như vậy nên chắc hẳn đối với anh ấy thì 60 U/ ml là chỉ số bình thường. Trong trường hợp này, chỉ cần dựa trên việc so sánh với quá khứ của bản thân cũng có thể phát hiện ra các bất thường.

(*) CT – Scanner: Kỹ thuật dùng nhiều chùm tia X-quang quét lên một khu vực của cơ thể theo lát cắt ngang phối hợp với xử lý bằng máy tính để có hình ảnh hai chiều hoặc ba chiều của bộ phận cần chụp.

Tùy từng người mà cũng có trường hợp như tôi nói phía trên nên việc so sánh với các chỉ số trong quá khứ mới là điều quan trọng.

Đời người tuyệt đối không bao giờ có thể quay trở lại quá khứ.

Kết quả khám sức khỏe trong quá khứ là thứ rất quý giá, bạn có dùng bao nhiêu tiền cũng không thể mua được. Không phải cứ nghĩ vì không có gì đặc biệt bất thường nên mỗi lần khám sức khỏe xong bạn lại vứt số liệu đi, mà bạn nhất định hãy bảo quản dữ liệu khám sức khỏe để có thể xem lại và so sánh hàng năm nhé!

Không nên lập tức vui buồn chỉ với kết quả khám sức khỏe hay kết quả khám lại. Điều quan trọng là việc xem xét và so sánh các dữ liệu của hiện tại và quá khứ. Hãy giữ lại kết quả khám sức khỏe hàng năm.

“Bệnh viện Đại học” và “Bệnh viện quy mô vừa”, nếu làm phẫu thuật thì chọn ở đâu?

“Phát hiện và điều trị sớm” và “Phó mặc”, đâu là câu trả lời đúng trong điều trị ung thư?

Filed Under: Uncategorized

[Những ngộ nhận “vì sức khỏe”] “Bệnh viện Đại học” và “Bệnh viện quy mô vừa”, nếu làm phẫu thuật thì chọn ở đâu?

November 23, 2020

[Review - Đọc online] Những Ngộ Nhận "Vì Sức Khỏe" - Toshio Akitsu

Lần cập nhật gần nhất December 9th, 2020 - 02:15 pm

Ở phần trước tôi đã nêu ra rằng nên nhờ bác sĩ gia đình giới thiệu cho mình bác sĩ tay nghề giỏi, tuy vậy cũng có những người nghĩ rằng “Phó mặc hết cho bác sĩ thì đúng là cũng hơi lo” hay “Thật ra tìm mãi mà chưa tìm được bác sĩ gia đình có thể tin tưởng được”. Những lúc như vậy, các bạn hãy thử tham khảo hai điểm sau đây để chọn bệnh viện và bác sĩ nhé.

1. Độ phức tạp của ca phẫu thuật

2. Tuổi của bác sĩ phẫu thuật

Trước tiên, về “Độ phức tạp của ca phẫu thuật”, đối với những bệnh có thể chữa trị bởi những ca phẫu thuật đơn giản thì tôi khuyên bạn không nên tới các bệnh viện Đại học. Các bệnh viện Đại học về cơ bản là nơi để đào tạo sinh viên. Những phẫu thuật đơn giản như ruột thừa, thoát vị bẹn, trĩ.. là những ca điển hình được giao cho các bác sĩ ít kinh nghiệm hoặc các bác sĩ thực tập để rèn luyện tay nghề phẫu thuật.

Tôi không có ý nói điều này sẽ có thể dẫn đến các sai sót y khoa, tuy nhiên, với những phẫu thuật như vậy, tôi cho rằng nên chọn các bệnh viện quy mô vừa hay các phòng khám tư được đánh giá cao.

Ngoài ra, còn có phẫu thuật máu tụ dưới màng cứng mạn tính bên khoa Ngoại về não, hay gãy xương tứ chi thông thường bên khoa Ngoại chỉnh hình cũng tương tự như trên.

Ngược lại, những bệnh nan y hay những ca phẫu thuật phức tạp thì nên chọn bệnh viện Đại học hoặc bệnh viện Đa khoa công lập. Những nơi này có ý nghĩa cao trong vai trò là các cơ sở nghiên cứu nên các bạn có thể nhận được các điều trị tiên tiến với các máy móc tối tân nhất đối với việc điều trị các bệnh nan y hoặc các phẫu thuật lớn về tim, não,…

Tiếp theo tôi sẽ nói về “Tuổi của bác sĩ phẫu thuật”. Độ tuổi của bác sĩ có tay nghề giỏi thường là trên dưới 40 tuổi; tương đương với Bác sĩ có học hàm Phó giáo sư ở các bệnh viện Đại học, hay trưởng phòng, trưởng khoa ở các bệnh viện quy mô vừa. Đó là thời kỳ họ tỏa sáng nhất về mặt kỹ thuật. Trẻ hơn một chút thì chưa đủ kinh nghiệm mà già hơn một chút thì thường hay ít thực hành. Vì vậy, độ tuổi này thường vừa cứng cả về kinh nghiệm lẫn nghiệp vụ thực tế.

Tuy nhiên, về các vấn đề khác như bầu không khí của bệnh viện, tính cách của bác sĩ, tính tương thích với bạn, hay bác sĩ mà bạn mong muốn phẫu thuật cho mình có nhận phẫu thuật hay không thì thực tế bạn phải thử đến bệnh viện mới biết được.

Bạn hãy thử đến bệnh viện mình đã chọn, nếu có ấn tượng xấu với thiết bị khám bệnh hoặc có cảm giác không tin tưởng bác sĩ hay không phải bác sĩ mình mong đợi thì hãy suy nghĩ đến việc đổi bệnh viện.

Đặc biệt, các bệnh viện mà cách nói chuyện và thái độ của các nhân viên ngoài ngạch y tế như ở lễ tân hay quầy thu ngân,… mà không tốt thì thường cũng sẽ thiếu ý thức hay sự tận tình đối với chăm sóc y tế nên các bạn không chọn thì tốt hơn.

Tuyệt đối không được cả tin vào bảng “xếp hạng”

Khi chọn bệnh viện, điều tối kị nhất là cả tin vào “bảng xếp hạng bệnh viện” hay các đánh giá được đăng tải trên mạng hoặc tạp chí. Ví dụ, “bảng xếp hạng bệnh viện” mà các nhà báo hay biên tập viên y tế đã đánh giá chỉ bằng việc nhìn vào các thành tích phẫu thuật ung thư mà các bệnh viện đã nộp cho Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản.

Ở đây tôi muốn lưu ý là “thành tích tốt” không tương đương với “có nhiều bác sĩ tay nghề cao”. Trong các bệnh viện, cũng có những bệnh viện chuyên tích cực nhận phẫu thuật những ca bệnh khó (1) nhưng ngược lại, cũng có những bệnh viện chỉ nhận phẫu thuật những ca đơn giản, dễ chữa trị, còn những ca khó sẽ giới thiệu cho các bệnh viện khác và nhờ họ tiếp nhận (2). Kết quả là bệnh viện (2) sẽ cho ra con số thành tích cao với tỉ lệ thành công là 98%, và nhận vị trí xếp hạng thứ nhất.

Nếu xét về mặt thứ hạng thì bệnh viện (2) sẽ xếp trên nhưng xét về nơi có nhiều bác sĩ tay nghề cao thì chắc chắn bệnh viện (1) sẽ nhiều hơn một cách áp đảo.

Hơn nữa, chúng ta không thể cả tin vào những thông tin đánh giá trên các trang mạng. Vì trên mạng, các đánh giá xấu bị xóa đi hay việc giả danh bệnh nhân để viết các đánh giá tốt vẫn đang xảy ra thường xuyên.

Những thông tin này chưa đủ độ tin cậy.

Khi chọn bệnh viện để phẫu thuật, cần lưu ý không dựa vào mức độ lớn bé hay thứ hạng mà phải xem xét “độ khó của ca phẫu thuật” và thực tế phải đến tận nơi để thử cảm nhận. Thêm vào đó, hãy thử lưu ý độ tuổi của bác sĩ phẫu thuật.

“Phòng khám tư” và “Bênh viện đa khoa”, khi cảm thấy không khỏe thì nên đi khám ở đâu?
“Kết quả bất thường khi khám sức khỏe” và “Kết quả không có vấn đề gì khi khám lại ở bệnh viện”, nếu tin thì sẽ tin bên nào?

Filed Under: Uncategorized

[Những ngộ nhận “vì sức khỏe”] “Phòng khám tư” và “Bênh viện đa khoa”, khi cảm thấy không khỏe thì nên đi khám ở đâu?

November 23, 2020

[Review - Đọc online] Những Ngộ Nhận "Vì Sức Khỏe" - Toshio Akitsu

“Cảm thấy không khỏe lắm!”

Những lúc như vậy các bạn sẽ đến bệnh viện nào?

Chắc hẳn sẽ có những người đến phòng khám tư hoặc bệnh viện gần nhà nhưng cũng sẽ có những bạn đến các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện hoặc các bệnh viện Đại học.

Vậy thì, rốt cuộc đến đâu mới là câu trả lời đúng?

Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết, tôi cần phải giải thích các mức độ của Chăm sóc y tế.

Hầu hết nhiều người không biết, nhưng Chăm sóc y tế được chia ra làm 3 mức độ: Chăm sóc y tế mức độ 1 tương ứng với khám ngoại trú, Chăm sóc y tế mức độ 2 bao gồm nhập viện, xét nghiệm hay phẫu thuật và Chăm sóc y tế mức độ 3 là áp dụng kỹ thuật cao vào điều trị.

Vì vậy, phân loại bệnh viện cũng được chia theo các mức độ như dưới đây:

• Chăm sóc y tế mức độ 1 -> Phòng khám tư

• Chăm sóc y tế mức độ 2 -> Bệnh viện Đa khoa

• Chăm sóc y tế mức độ 3 -> Bệnh viện chức năng chỉ định được chứng nhận bởi quốc gia như các bệnh viện Đại học hay các trung tâm nghiên cứu ung thư.

Khi cơ thể không được khỏe, ta thường sẽ đi theo lộ trình: trước hết đến các phòng khám tư để tiếp nhận Chăm sóc y tế mức độ 1, nếu cần thiết thì xin giới thiệu để chuyển lên các bệnh viện thích hợp cho Chăm sóc y tế mức độ 2, mức độ 3.

Nói tóm lại, khi bị cảm hay khi cơ thể không khỏe thì việc ngay lập tức đi khám ở các bệnh viện Đa khoa hay bệnh viện Đại học là sai lầm.

Mỗi phân loại bệnh viện sẽ có các đặc thù riêng thích hợp với từng mức độ nêu trên.

Ví dụ: Bệnh viện Đa khoa hay bệnh viện Đại học thì được trang bị các thiết bị tiên tiến để phục vụ phẫu thuật hay xét nghiệm, tuy nhiên do số lượng bệnh nhân quá đông nên dù thế nào cũng khó có thể nhận biết được những chuyển biến nhỏ trên cơ thể của từng người bệnh.

Về điểm này, các phòng khám tư, do số lượng bệnh nhân cũng được giới hạn, nên có thể nhận biết được ngay cả những chuyển biến rất nhỏ của cơ thể bệnh nhân như “bạn hơi gầy hơn trước nhỉ!”, và chính điều đó sẽ giúp chúng ta dễ dàng phát hiện ra căn bệnh ung thư ở giai đoạn sớm. Vì vậy, chăm sóc y tế mức độ 1 rất phù hợp và có ý nghĩa lớn trong vỉệc phòng bệnh hay phát hiện bệnh sớm.

Và ngay cả trong trường hợp cần thiết phải phẫu thuật thì các bác sĩ ở cơ sở chăm sóc y tế mức độ 1, hay còn gọi là bác sĩ gia đình, cũng sẽ trở nên rất quan trọng. Và điều mấu chốt là khi cần phẫu thuật, bạn có thể nhờ bác sĩ gia đình: “Tôi muốn được bác sĩ giới thiệu cho một bác sĩ vừa giỏi kiến thức chuyên môn vừa tay nghề giỏi, vừa có nhân cách tốt” hay không. Nếu được thì cho dù có chọn bệnh viện Đại học hay bệnh viện công lập nào đi chăng nữa, bạn cũng có thể được giới thiệu đến một cơ sở y tế có bác sĩ tay nghề giỏi, đáng tin cậy.

Do đó, khi cơ thể không khỏe, việc đến khám trước ở các phòng khám hay bệnh viện tư tương ứng với chăm sóc y tế mức độ 1 là rất quan trọng.

Nên đều đặn đi khám trước tại các bệnh viện hoặc phòng khám tư. Như vậy sẽ làm tăng khả năng phát hiện các bệnh nặng ở giai đoạn sớm. Và khi cần thiết phải làm phẫu thuật thì cũng sẽ nhận được lời giới thiệu đến các bác sĩ đáng tin cậy.

“Bệnh viện Đại học” và “Bệnh viện quy mô vừa”, nếu làm phẫu thuật thì chọn ở đâu?

Filed Under: Uncategorized

Primary Sidebar

  • Sách kiến thức tổng hợp (80)
    • Kiến thức bách khoa (4)
    • Lịch sử thế giới (16)
    • Sách tâm lý học (16)
    • Tầm nhìn thế giới (15)
    • Tôn giáo – Tâm linh (6)
    • Xã hội học (6)
    • Y học – Dinh Dưỡng (18)
  • Sách kinh tế (77)
    • Bài học kinh doanh (16)
    • Sách dạy làm giàu (3)
    • Sách doanh nhân (9)
    • Sách đầu tư (3)
    • Sách khởi nghiệp (3)
    • Sách kinh tế học (11)
    • Sách kỹ năng làm việc (17)
    • Sách kỹ năng quản lý (3)
    • Sách Marketing – Bán hàng (11)
    • Sách tài chính tiền tệ (4)
  • Sách kỹ năng sống (222)
    • Sách kỹ năng giao tiếp (6)
    • Sách làm cha mẹ (3)
    • Sách nghệ thuật sống đẹp (54)
    • Sách truyền cảm hứng (14)
    • Sách tư duy – kỹ năng sống (145)
  • Sách văn học (262)
    • Du ký (6)
    • Tiểu sử – Hồi ký – Tự truyện (18)
    • Tiểu thuyết lãng mạn (27)
    • Truyện dài (18)
    • Truyện đam mỹ (4)
    • Truyện Giả tưởng – Huyền Bí – Phiêu Lưu (6)
    • Truyện kinh dị (1)
    • Truyện ngắn – Tản văn – Tạp văn (56)
    • Truyện tiên hiệp (1)
    • Truyện trinh thám (13)
    • Văn học Hàn Quốc (13)
    • Văn học kinh điển (21)
    • Văn học Nhật Bản (27)
    • Văn học thiếu nhi (22)
    • Văn học tuổi mới lớn (13)
    • Văn học Việt Nam (24)
  • Truyện ngôn tình (157)
    • Ngôn tình cổ đại (37)
      • Ngôn tình cung đấu (13)
      • Ngôn tình điền văn (1)
      • Ngôn tình giang hồ (5)
    • Ngôn tình hiện đại (90)
      • Ngôn tình hắc bang (5)
      • Ngôn tình quân nhân (1)
      • Ngôn tình showbiz (2)
      • Ngôn tình thanh mai trúc mã (5)
      • Ngôn tình thanh xuân vườn trường (26)
      • Ngôn tình võng du (5)
    • Ngôn tình huyền huyễn (20)
    • Ngôn tình ngược (34)
    • Ngôn tình oan gia (8)
    • Ngôn tình trinh thám (5)
    • Ngôn tình trọng sinh (3)
    • Ngôn tình xuyên không (11)
  • Uncategorized (1)

Alexandre Dumas (2) Ashlee Vance (2) Bát Nguyệt Trường An (3) Bạch Lạc Mai (3) Choi Kwanghyun (2) Cố Mạn (4) Cố Tây Tước (2) Cửu Lộ Phi Hương (4) Cửu Nguyệt Hi (4) Dazai Osamu (2) Diệp Lạc Vô Tâm (3) Don Miguel Ruiz (2) Du Phong (2) Dưa Hấu Hạt Tím (2) Dương Thụy (2) F. Scott Fitzgerald (2) Hae Min (2) Haruki Murakami (4) Hermann Hesse (2) Higashino Keigo (5) Hiromi Shinya (2) Hoàng Hải Nguyễn (2) Huyền Trang Bất Hối (2) Jack Weatherford (2) Jared Diamond (3) Jeffrey Archer (2) Kanae Minato (3) Kazuo Ishiguro (2) Keigo Higashino (2) Ken Honda (2) Khaled Hosseini (2) Kim Suhyun (2) Kiên Trần (2) Luis Sepulveda (3) Lý Thượng Long (6) Lý Ái Linh (2) Lư Tư Hạo (2) Lưu Đồng (2) Lục Xu (2) Malcolm Gladwell (3) Matt Haig (3) Meik Wiking (2) Minh Nguyệt Thính Phong (2) Mèo Maverick (2) Mặc Bảo Phi Bảo (7) Nam Hữu Tiên Sinh (2) Nguyên Phong (4) Nguyễn Ngọc Thạch (3) Nguyễn Ngọc Tư (2) Nguyễn Nhật Ánh (5) Nguyệt Hạ Điệp Ảnh (4) Nhĩ Đông Thố Tử (3) Oopsy (2) Peter Frankopan (3) Phỉ Ngã Tư Tồn (5) Quan Tâm Tắc Loạn (2) Rachel Hollis (2) Robin Sharma (4) Rosie Nguyễn (2) Stephen J. Dubner (3) Steven D. Levitt (3) Thanh Ca Nhất Mảnh (2) Thích Nhất Hạnh (7) Thập Tứ Lang (3) Thục Khách (2) Tony Buổi Sáng (2) Triệu Kiền Kiền (3) Trí (2) Trương Hạo Thần (2) Tào Đình (2) Tửu Tiểu Thất (3) Vãn Tình (4) Walter Isaacson (2) Yuval Noah Harari (3) Zion Kabasawa (2) Ân Tầm (2) Đinh Mặc (4) Đường Thất Công Tử (3) Đặng Hoàng Giang (4) Đồng Hoa (6)

NUHADO© 2026 · NỘI DUNG ĐƯỢC TỔNG HỢP VÀ BIÊN TẬP TỪ NHIỀU NGUỒN VỚI MỤC ĐÍCH LƯU TRỮ.